giải phẫu bệnh basedow
TS.BS Vũ Hữu Khiêm - Trưởng khoa Ung bướu, BVĐK Tâm Anh Hà Nội cho biết, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 4 trên thế giới và bất cứ phụ nữ nào cũng có nguy cơ mắc phải. Đặc biệt là những phụ nữ bị nhiễm virus HPV, HIV. Cách điều trị ung thư cổ tử
Lé do bệnh lý ở người lớn như: Basedow, đục thể thủy tinh, bất đồng khúc xạ, từng chấn thương hoặc phẫu thuật mắt. Do yếu tố quy tụ: Xảy ra trong độ tuổi đến trường xuất hiện tật khúc xạ viễn thị hay cận thị. Lé do di truyền từ người thân trong gia đình.
"Bệnh basedow có nguy hiểm không?", "bệnh basedow có lây không" là những thắc mắc thường thấy ở những người không may mắc phải basedow. Giải đáp thắc mắc bệnh basedow có nguy hiểm không. Tác giả: Ngọc Anh Cập nhật: 14/01/2020. Tham vấn y khoa: phẫu thuật khác không
BASEDOW - Bệnh cường giáp. Bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất gây sản xuất quá mức hormone tuyến giáp trong cơ thể (cường giáp). Cùng motuyengiap.com trang bị những kiến thức cơ bản về bệnh nhé! 24. Th7. 11. Th9.
Để chẩn đoán xác định bệnh Basedow cần phải dựa vào cả lâm sàng và xét nghiệm cần thiết: Về lâm sàng: Bệnh nhân có hội chứng nhiễm độc giáp kèm ít nhất 1 trong 3 triệu chứng: bướu mạch, lồ mắt và phù niêm trước xương chày. Xét nghiệm cần thiết: FT4 tăng và TSH giảm, một số bệnh nhân ở giai đoạn sớm chỉ có FT3 tăng.
Le Site De Rencontre 100 Gratuit.
Thuốc kháng giáp ngăn cho tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone dư thừa bằng cách ức chế quá trình oxy hóa i-ốt trong tuyến giáp. Các triệu chứng bệnh basedow thường sẽ cải thiện trong vòng 4–6 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc. Các thuốc kháng giáp có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp điều trị khác như liệu pháp i-ốt phóng xạ hoặc phẫu thuật. Việc sử dụng thuốc có khi vẫn tiếp tục kéo dài trong 12–18 tháng để đảm bảo tình trạng bệnh không quay trở lại. Trong một số trường hợp, bạn có khi phải uống thuốc lâu hơn. Liệu pháp i-ốt phóng xạ Liệu pháp i-ốt phóng xạ đã được ứng dụng để điều trị basedow phổ biến từ những năm 1940. Đến ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng vì không xâm lấn và mang lại hiệu quả cao. I-ốt phóng xạ được đưa vào cơ thể bằng đường uống và sẽ nhắm trực tiếp vào tuyến giáp. Bình thường, tuyến giáp sử dụng i-ốt để tạo nên hormone. Khi dùng thuốc, i-ốt phóng xạ sẽ tích tụ trong tuyến giáp và từ từ phá hủy các tế bào hoạt động quá mức ở đây. Từ đó, kích thước tuyến giáp sẽ giảm xuống và sản xuất ít hormone hơn lúc trước. Mặc dù có những lo ngại cho rằng sử dụng phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp nhưng đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đo được mức độ nguy hiểm sẽ tăng lên bao nhiêu. Tuy nhiên, vẫn có một rủi ro nhỏ có thể xảy ra khi thực hiện liệu pháp này là ung thư thứ phát. Mặc dù liệu pháp i-ốt phóng xạ khá an toàn nhưng không nên dùng cho phụ nữ có thai vì chất này có thể phá hủy tuyến giáp ở thai nhi. Do đó, bạn phải đảm bảo không mang thai trước khi uống thuốc i-ốt phóng xạ. Ngoại trừ giai đoạn đang điều trị, i-ốt phóng xạ không gây nguy hiểm cho sức khỏe với phụ nữ muốn có thai cũng như không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ hoặc nam giới. Thuốc chẹn beta Theo chỉ định chính thống, thuốc chẹn beta được dùng để điều trị các vấn đề về tim và tăng huyết áp. Chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn tác động của adrenalin và các hợp chất tương tự khác. Bên cạnh đó, các thuốc này có thể giúp giảm bớt những triệu chứng bệnh basedow. Người bệnh basedow có khả năng nhạy cảm hơn với adrenalin, từ đó gây ra các triệu chứng như đổ mồ hôi, run rẩy, tăng nhịp tim và lo lắng. Khi đó, thuốc chẹn beta có thể giúp giảm bớt những triệu chứng này, nhưng lưu ý là chúng không giải quyết được nguyên nhân gây bệnh basedow. Thuốc chẹn beta hay được dùng chung với những phương pháp điều trị khác. Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ xuất hiện tương tác thuốc sẽ tăng lên, gây ra những tác dụng không mong muốn. Phẫu thuật Phẫu thuật tuyến giáp là cách điều trị basedow được chỉ định nếu các phương pháp điều trị khác không thành công. Cắt tuyến giáp sẽ loại bỏ tất cả hoặc một phần của tuyến giáp tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bệnh. Ưu điểm lớn nhất khi phẫu thuật chính là khôi phục được nồng độ hormone tuyến giáp nhanh nhất, dễ nhất và lâu dài nhất. Sau khi phẫu thuật, người bệnh có thể cảm thấy đau cổ, giọng khàn và yếu ớt nhưng chỉ là những biểu hiện tạm thời do ống thở được đưa vào khí quản trong khi phẫu thuật gây nên. Một vết sẹo sẽ xuất hiện sau khi cắt tuyến giáp và kích thước của nó sẽ phụ thuộc vào phần tuyến giáp được phẫu thuật loại bỏ đi. Khi phẫu thuật chỉ loại bỏ một phần tuyến giáp, phần còn lại sẽ vẫn có khả năng đảm nhận được chức năng của tuyến nội tiết này. Tuy nhiên, nếu toàn bộ tuyến giáp bị cắt bỏ, cơ thể sẽ không thể sản xuất đủ hormone tuyến giáp và gây ra tình trạng suy giáp. Để điều trị bệnh lý này, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc nội tiết tố có tác dụng thay thế hormone bị thiếu và bạn sẽ cần sử dụng chúng suốt đời. Các biện pháp hỗ trợ tại nhà cho bệnh basedow Những người mắc bệnh basedow có vấn đề về mắt thường chiếm khoảng 25–50% nhưng hầu hết đều có thể kiểm soát được bằng các biện pháp khắc phục tại nhà dưới đây. Một số trường hợp có thể cần phẫu thuật nhưng rất hiếm và chỉ dành cho những trường hợp có triệu chứng nghiêm trọng Nếu mí mắt không thể khép lại hoàn toàn, hãy sử dụng miếng dán mắt vào ban đêm để giữ cho mắt không bị khô. Sử dụng nước mắt nhân tạo không kê đơn hoặc theo đơn của bác sĩ để làm ẩm mắt bất cứ khi nào cảm thấy khô mắt. Khi mắt bị đỏ và sưng vào buổi sáng, hãy thay đổi tư thế ngủ với đầu được kê cao lên. Đeo kính râm để bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời, ánh sáng đèn và gió.
Một trong các cách điều trị bệnh basedow là phẫu thuật tuyến giáp. Vì đây là phương pháp xâm lấn, có thể tiềm ẩn các nguy cơ nhất định, việc cân nhắc điều trị bệnh basedow khi nào cần phẫu thuật đúng chỉ định là một điều quan trọng. Bác sĩ có thể đề nghị tư vấn phẫu thuật tuyến giáp cho bệnh nhân basedow trong các trường hợp sauHiện đang mang thai hoặc cho con bú hoặc nuôi con nhỏ trong nhàBiến chứng mắt nghiêm trọng do bệnh basedowCó sự hiện diện đồng thời của ung thư tuyến giáp hoặc nốt sần nghi ngờ ác tínhBị tác dụng phụ của thuốc kháng giápKích thước tuyến giáp quá to gây ra khó khăn khi nuốt, hít thở hoặc biến dạng cổKhó kiểm soát cường giápMong muốn kiểm soát nhanh chóng và giải quyết khỏi bệnh cường giáp Bệnh basedow xuất hiện cùng lúc với ung thư tuyến giáp cần được phẫu thuật 2. Những lợi ích khi phẫu thuật tuyến giáp là gì? Phẫu thuật tuyến giáp sẽ đem đến cho những người mắc bệnh basedow một cách chữa trị nhanh chóng và hiệu dù bệnh nhân có thể sẽ cần chuyển từ việc uống thuốc chống tuyến giáp sang bổ sung hormone tuyến giáp nếu phẫu thuật cắt trọn tuyến giáp, các triệu chứng khó chịu nhìn chung không còn nữa. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tiếp tục dùng tất cả các loại thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta cho đến tận ngày phẫu thuật. Thậm chí, thuốc chẹn beta có thể được tiếp tục trong một vài ngày sau phẫu thuật và sau đó có thể giảm dần hoặc dừng lại. Việc bổ sung hormone tuyến giáp thường được bắt đầu vào ngày hôm sau, hoặc một vài ngày sau đó ở những bệnh nhân kiểm soát hormone kém trong giai đoạn trước phẫu mổ cường giáp sẽ cắt bỏ tuyến giáp tất cả hoặc gần như tất cả các mô tuyến giáp khỏi cổ, điều này sẽ dẫn đến việc giảm sản xuất kháng thể nhanh hơn theo thời gian, có lợi cho những người mắc biến chứng về mắt. Đồng thời, mổ basedow cũng tránh được sự tăng đột biến đáng kể trong sản xuất kháng thể được quan sát thấy khi điều trị với iốt phóng xạ, có thể làm trầm trọng thêm tổn thương mắt, đặc biệt là ở người hút với những bệnh nhân có các triệu chứng chèn ép đáng kể do tuyến giáp quá to, gây khó nuốt, cảm giác nghẹt thở, khó thở hoặc có áp lực cổ, nặng cổ, mổ cường giáp sẽ loại bỏ bớt nhu mô tuyến giáp và sẽ giải quyết các triệu chứng với những bệnh nhân muốn tránh tiếp xúc với bức xạ, phẫu thuật tuyến giáp là một biện pháp thay thế không có phóng xạ để kiểm soát dứt điểm căn bệnh này. 3. Những nguy cơ có thể gặp phải khi mổ basedow là gì? Chấn thương thoáng qua ở dây thần kinh thanh quản tái phát hoặc nhánh ngoài của dây thần kinh thanh quản trên dẫn đến khàn giọng, mất giọng nói. Nguy cơ chấn thương vĩnh viễn là rất canxi máu thoáng qua Tại thời điểm phẫu thuật, tuyến cận giáp thường nằm ở phần sau của tuyến giáp phải được bảo quản cẩn thận nhưng vẫn có thể sang chấn và cần một thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Trong thời gian này, tuyến cận giáp không thể đảm bảo chức năng duy trì mức canxi trong máu. Lúc này, chủ động điều trị trước bằng canxi và bổ sung vitamin D có thể giảm thiểu những rủi ro này. Nguy cơ hạ canxi máu vĩnh viễn do tổn thương không hồi phục đối với tuyến cận giáp là cực kỳ thấp ở các bác sĩ phẫu thuật tuyến giáp có kinh máu, nhiễm trùng Các nguy cơ này xảy ra trong giai đoạn hậu phẫu tại vị trí phẫu thuật tuyến giáp là rất bão giáp Trong quá trình phẫu thuật tuyến giáp, việc xử lý tuyến giáp có thể gây ra sự giải phóng ồ ạt các hormone tuyến giáp vào máu. Nếu người bệnh đã được kiểm soát tốt tiền thuật trước đó, cơ thể đã được bảo vệ khỏi tác động của hormone này. Ngược lại, cơn bão giáp nghiêm trọng có thể gây tổn thương cấp tính các cơ quan và đôi khi còn nguy kịch đến tính mạng ngay trên bàn mổ nếu không được kiểm soát tức thời. Người bệnh có thể mất giọng sau khi mổ basedow 4. Làm thế nào để chuẩn bị phẫu thuật tuyến giáp? Đảm bảo người bệnh đang được chỉ định dùng thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta để kiểm soát tối ưu nồng độ hormone tuyến giáp trước khi phẫu sĩ phẫu thuật nên bắt đầu bổ sung canxi từ trước mổ basedow và bổ sung vitamin D nếu người bệnh bị bệnh có thể được kê toa thuốc giảm iốt trong 10 ngày trước phẫu thuật. Những giọt iốt này không chứa bất kỳ bức xạ nào mà có thể giúp giảm lưu lượng máu đến tuyến giáp trước khi mổ cường giáp. 5. Cách tiến hành phẫu thuật tuyến giáp Việc phẫu thuật tuyến giáp sẽ được thực hiện dưới gây mê toàn vết mổ được thực hiện ở ngay phía trước cổ của người bệnh để bác sĩ có thể tiếp cận đến tuyến giáp. Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải kiểm soát cẩn thận các mạch máu đến tuyến giáp, loại bỏ tuyến giáp trong khi bảo vệ dây thần kinh kiểm soát dây thanh âm và tuyến cận giáp. Nếu tuyến cận giáp bị tổn thương, chúng có thể được đặt lại vào trong các cơ vùng cổ để có thể tự phục tuyến giáp đã được cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật sẽ đóng tất cả các lớp và có thể để lại một ống dẫn nhỏ để tiếp tục dẫn lưu, loại bỏ bất kỳ chất lỏng nào có thể tích tụ trong không gian nơi tuyến giáp tồn tại trước bệnh sẽ được theo dõi trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật để đảm bảo các chức năng đang hồi phục tốt. Đối với một số bệnh nhân gặp phải tình trạng hạ canxi sau phẫu thuật, thời gian nằm viện có thể dài hơn cho đến khi mức canxi được điều chỉnh trở về ổn định. Gây mê toàn thân được chỉ định trong phẫu thuật 6. Cách chăm sóc sau phẫu thuật tuyến giáp như thế nào? Cách thức phẫu thuật và thời gian phục hồi có thể khác nhau ở mỗi cá chung, sau mổ basedow, hầu hết các người bệnh là không tránh khỏi bị đau họng trong vài ngày. Chính vì vậy, họ cần được được chăm sóc bằng một chế độ ăn uống mềm hơn, dễ nuốt hơn trong giai đoạn tuần đầu tiên sau mổ cường giáp, mức năng lượng dung nạp được của bệnh nhân sẽ thấp hơn bình thường vì cơ thể đang sử dụng năng lượng của mình để chữa lành. Tuy vậy, khi vết thương cải thiện hơn, người bệnh có thể ăn uống tăng dần. Sau phẫu thuật, người bệnh cần ăn các loại thức ăn mềm 7. Có cần phải uống thuốc tiếp tục sau phẫu thuật tuyến giáp hay không? Bác sĩ phẫu thuật sẽ bắt đầu liệu pháp thay thế hormone tuyến giáp sau phẫu thuật tuyến hầu hết các trường hợp, người bệnh sẽ có chỉ định bắt đầu vào buổi sáng sau mổ basedow. Nếu nồng độ hormone tuyến giáp chưa được kiểm soát tốt trước khi phẫu thuật hoặc người bệnh đã trải qua một sự giải phóng hormone ồ ạt trong quá trình phẫu thuật có thể nhận thấy nhịp tim nhanh, huyết áp cao, bốc hỏa nặng hoặc run rẩy tay chân ngay sau phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật có thể trì hoãn thuốc sau vài cạnh đó, dựa trên mức độ canxi và lượng hormone tuyến cận giáp trong máu, người bệnh có thể cần phải bổ sung canxi và/hoặc vitamin D trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật tuyến nhiên, bệnh nhân sẽ có thể ngừng thuốc kháng giáp ngay lập tức sau mổ basedow. Nếu đang dùng thuốc chẹn beta nhằm kiểm soát nhịp tim, bác sĩ có thể ngừng, giảm liều hoặc giữ liều tương tự với kế hoạch cai thuốc trong vài tuần và vài tháng sau phẫu lại, phẫu thuật tuyến giáp là cách thức điều trị bệnh basedow đem lại hiệu quả nhanh, kiểm soát tốt triệu chứng và không có nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ. Tuy nhiên, để cuộc mổ cường giáp đem lại lợi ích tối đa, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hạn chế các rủi ro không mong được tư vấn chi tiết, quý khách vui lòng đến trực tiếp hệ thống y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Chỉ số FT4= 13,2, TSH = 0,04 sau điều trị bệnh Basedow 3 tháng có ổn không? Mối liên hệ giữa tuyến giáp và rụng tóc Tiết dịch vàng ở vú trong thời kỳ mang thai có sao không?
Nguyễn Hoài Nam Bệnh Basedow chỉ mới được các thầy thuốc chú ý tới từ cuối thế kỷ XVIII. Năm 1722, Saint Ives đã mô tả 3 trường hợp bướu cổ kèm với lồi mắt và năm 1762 Morgagni mô tả những thay đổi đặc hiệu về đại thể của chứng bệnh này. Nhưng phải đợi đến năm 1840 mới có được sự mô tả đầy đủ của K. Basedow, một thầy thuốc gốc người Đức về các triệu chứng lâm sàng của chứng bệnh sau này mang tên ông. Lịch sử phẫu thuật bệnh Basedow có liên quan mật thiết với lịch sử của sự phát triển của phẫu thuật trên tuyến giáp. Người đầu tiên tiến hành phẫu thuật cắt bỏ một phần tuyến giáp để điều trị bệnh Basedow là Valderver năm 1869, nhưng tác giả không công bố kết quả. PHẦN 1 BASEDOW NHẬN DIỆN RA SAO ? PHẦN 2 BASEDOW - CÁC XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG CẦN THIẾT Năm 1877, Lister công bố một trường hợp cắt bỏ một phần lớn tuyến giáp cho một bệnh nhân Basedow với kết quả tốt. Kocher là người đầu tiên chủ trương điều trị bệnh Basedow bằng phẫu thuật một cách hoàn hảo. Từ đó đến nay nhờ có những thành tựu khoa học kỹ thuật về phương diện chuẩn bị bệnh nhân trước mổ cũng như gây mê hồi sức và những hiểu biết mới về cơ chế bệnh sinh, phẫu thuật bệnh Basedow đã không ngừng tiến bộ. Pemberton, năm 1930, đã có một nhận xét xác đáng “ không một lĩnh vực phẫu thuật nào có được những kết quả lớn lao đến trình độ kiệt tác như lĩnh vực điều trị bệnh Basedow bằng mổ xẻ”. Mặc dù, cho đến ngày hôm nay những sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của bệnh Basedow đã tương đối rõ ràng, nhưng vẫn chưa có một loại thuốc hay phương pháp điều trị nào điều trị dứt điểm nguyên nhân gây bệnh. Trong điều trị bệnh Basedow, biện pháp chủ yếu vẫn là điều trị cường năng tuyến giáp do bệnh gây ra và vẫn tồn tại ba phương pháp điều trị căn bản điều trị nội khoa với thuốc kháng giáp tổng hợp, điều trị bằng phẫu thuật và điều trị bằng Iode đồng vị phóng xạ. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm khác nhau. Việc lựa chọn phương pháp điều trị tùy thuộc vào tình hình bệnh tật, điều kiện xã hội và hoàn cảnh cụ thể của mỗi bệnh nhân cũng như kinh nghiệm của thầy thuốc. 1. Điều trị nội khoa Trong điều trị bệnh Basedow, dù lựa chọn phương pháp điều trị nào thì điều trị nội khoa vẫn là một phương pháp hữu hiệu để đưa bệnh nhân về tình trạng bình giáp và là cơ sở để giúp cho các phương pháp điều trị khác đạt kết quả tốt hơn. Trong điều trị nội khoa, kháng giáp tổng hợp vẫn là loại thuốc căn bản hàng đầu, các thuốc khác chỉ có vai trò hỗ trợ cho điều trị đạt kết quả tốt hơn. Mỗi loại thuốc tác dụng theo một cơ chế khác nhau. Thuốc kháng giáp tổng hợp Các thuốc kháng giáp tổng hợp được áp dụng ở nước ta hiện nay là MTU methylthiouracil, PTU propylthiouracil, Neomercazole 1-methyl-2-thio-3-carbethoxy imidazol có tác dụng làm giảm hormone tuyến giáp theo hai cơ chế nội giáp và ngoại giáp. Hơn nữa, thuốc kháng giáp tổng hợp còn làm thay đổi miễn dịch trung gian tế bào ở những bệnh nhân Basedow, làm gia tăng số lượng những tế bào lympho T ức chế, làm giảm hoạt động của những tế bào lympho T hỗ trợ và làm giảm thấm nhập tế bào lympho tại nhu mô tuyến giáp. Hiện nay, liệu pháp điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp được lựa chọn chính ở Nhật và các nước Châu Âu. Trong điều trị, muốn đạt được hiệu quả ức chế miễn dịch, tức là điều trị chính vào căn nguyên của bệnh thường phải bắt đầu bằng liều cao, khi nồng độ hormone giáp trạng đã trở về giá trị bình thường thì giảm dần cho đến liều duy trì và điều trị tiếp tục trong vòng 1-2 năm. Tuy nhiên, những rối loạn tự miễn của tuyến giáp là một quá trình phức tạp và kéo dài, đòi hỏi phải có một phương pháp điều trị tích cực, việc điều trị bằng kháng giáp tổng hợp đơn thuần sẽ cho một tỷ lệ tái phát cao 70-75%. Tỷ lệ tái phát càng cao nếu thời gian điều trị càng ngắn. Cho đến nay thời gian điều trị và tiêu chuẩn quyết định thời điểm điều trị gọi là thất bại vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất. Thuốc chẹn beta giao cảm Ở tim, các hormone của tuyến giáp làm tăng tần số, lưu lượng máu, phì đại thất trái và sức co bóp. Số lượng thụ thể beta của cơ tim gia tăng dưới ảnh hưởng của hormone tuyến giáp gây ra nhiều biểu hiện giống như trạng thái cường giao cảm trong bệnh Basedow. Chính vì vậy thuốc chẹn beta giao cảm đã được sử dụng trong điều trị bệnh Basedow ở giai đoạn tấn công cùng với thuốc kháng giáp tổng hợp chúng cho tác dụng tốt trên hệ tim mạch, khống chế được các triệu chứng cường giao cảm như run tay, đổ mồ hôi, lo sợ ở những bệnh nhân Basedow. Ngoài tác dụng ức chế giao cảm các thuốc này, đặc biệt là Propranolol còn tác động trên nồng độ của T3, T4 huyết thanh. Làm giảm nồng độ T3 do ức chế sự biến đổi T4 thành T3 ở ngoại vi. Thuốc chẹn beta giao cảm không gây thay đổi việc gắn T3 và T4 với tế bào, nhưng làm giảm sự khử Iode của T4, gần 40% và của T3, gần 41%. Thuốc chẹn beta giao cảm có ảnh hưởng âm tính lên sự cân bằng nitrogene, làm tăng lượng máu đi ra từ tim và tăng tỷ lệ hấp thu oxygène trong bệnh Basedow. Bởi vậy, những thuốc này chỉ được dùng như một thuốc kết hợp lúc ban đầu. Thuốc corticoide Với kết quả của các nghiên cứu gần đây về phương diện hóa sinh học cho thấy các protease của lysosome tế bào giữ vai trò quan trọng trong quá trình phân giải thyroglobulin bên trong tuyến giáp. Các Lysosome của tế bào tuyến giáp chứa đầy đủ các protease và peptidase cần thiết cho sự bẻ gãy và cắt rời các acid amine có chứa Iode từ phân tử thyroglobulin. Các corticoide có tác dụng làm cân bằng màng Phospho lipide của Lysosome, không cho giải phóng hydrolase từ Lysosome. Mặt khác, các steroid còn có tác dụng ức chế các tế bào T trên các phương diện Sinh sản của tế bào, sản xuất các lymphokin, khả năng gây độc tế bào, các hoạt tính hỗ trợ hoặc ức chế. Cơ chế chính của corticoid là do chúng có khả năng liên kết với ADN của nhân tế bào có thẩm quyền miễn dịch, ngăn cản sự sao chép các ARN và phong bế quá trình sinh tổng hợp protein. corticoid cũng ức chế hoạt động trình diện kháng nguyên của đại thực bào. Ngoài ra corticoid còn tác động lên AMPc và ảnh hưởng lên sự sinh trưởng của tế bào lympho và hiện tượng giảm tế bào lympho xuất hiện 4-6 giờ sau khi dùng thuốc. Đồng thời corticoid còn làm giảm khả năng tập trung của các tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân và đa nhân tại vị trí viêm. Tác dụng ức chế miễn dịch của corticoid còn biểu hiện ở khả năng làm giảm sản xuất các kháng thể, đối với bệnh Basedow, corticoid làm giảm sản xuất T3 từ T4 ở ngoại vi cùng với việc tăng lượng T3r. Việc gia tăng sản xuất của T3r không có hoạt tính sinh học để thay thế T3 sẽ dẫn tới giảm hiệu quả sinh học của các hormone tuyến giáp. 2. Điều trị bằng phẫu thuật Mục đích của điều trị ngoại khoa bệnh Basedow là tiến hành phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp, giữ lại một lượng nhu mô vừa đủ để đạt được trạng thái bình giáp, tránh cường giáp tái phát hoặc suy giáp sau mổ. Như vậy, về thực chất, điều trị phẫu thuật bệnh Basedow là điều trị triệu chứng. Tuy nhiên để thực hiện điều này một cách an toàn và ít biến chứng lại là một vấn đề hết sức phức tạp. Ngày nay ngoài việc áp dụng những thành tựu to lớn trong ngành hoá dược, gây mê hồi sức, hoàn thiện kỹ thuật mổ còn có vai trò rất to lớn của công tác chuẩn bị và chỉ định phẫu thuật. Mặc dù vẫn còn có một số tai biến và biến chứng, điều trị bệnh Basedow bằng phẫu thuật cho đến nay vẫn là một phương pháp cơ bản chắc chắn nhất, có hiệu quả, ít di chứng, có thể điều trị thành công đến 90% các trường hợp và được chỉ định trong những trường hợp Basedow thể nặng ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi, Basedow có bướu tuyến giáp lớn, Basedow đã có biến chứng tim mạch, các trường hợp Basedow nặng không điều trị được bằng Iode đồng vị phóng xạ do bướu đã bão hòa Iode, các trường hợp điều trị nội khoa tích cực 5-6 tháng nhưng không có kết quả rõ rệt. Chúng tôi thấy tỷ lệ tai biến và biến chứng trong phẫu thuật bệnh Basedow rất dao động khác nhau tùy tác giả. Điều này cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tốt, nhưng phương pháp điều trị bằng phẫu thuật vẫn cần được tiếp tục hoàn thiện để làm giảm tới mức thấp nhất tỷ lệ tai biến và biến chứng, trong đó vai trò của kỹ thuật mổ và việc lựa chọn các tiêu chuẩn lâm sàng và sinh học chính trong chỉ định phẫu thuật rất quan trọng. Phẫu thuật tuyến giáp cần quan tâm đến cách xử lý mạch máu thích hợp nhằm tránh biến chứng suy giáp sau mổ cũng như cách cắt bỏ nhu mô tuyến giáp an toàn không làm tổn thương các cơ quan xung quanh như tuyến cận giáp trạng, dây thần kinh quặt ngược Các phương pháp phẫu thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp đang dùng phổ biến ở nước ta là phương pháp Kocher và phương pháp Nicolaev. Tùy theo điều kiện cụ thể, mỗi phẫu thuật viên khi áp dụng các phương pháp đó đều có cải tiến để đạt được kết quả tốt hơn. 3. Điều trị bằng Iode đồng vị phóng xạ Phương pháp này được áp dụng từ năm 1948, là một phương pháp điều trị tương đối đơn giản, có hiệu quả và tiết kiệm cho bệnh nhân cũng như cho bệnh viện. Việt Nam chính thức đưa vào điều trị từ năm 1978. Chúng ta có thể coi điều trị bằng Iode đồng vị phóng xạ như một phẫu thuật tuyến giáp chọn lọc, tác dụng vào các tế bào háo Iode của tuyến giáp, phá hủy các tế bào này bằng các tia b và g chủ yếu là tế bào b , 90% liều hấp thụ. Chỉ định của phương pháp Tất cả những thể bệnh nặng ở những bệnh nhân trên 40 tuổi, các thể bệnh kháng lại thuốc kháng giáp tổng hợp sau một thời gian điều trị lâu dài, các thể đe dọa có biến chứng tim mạch, các trường hợp tái phát sau mổ, những bệnh nhân không muốn mổ, những bệnh nhân chống chỉ định phẫu thuật hoặc các bệnh nhân không thể chuẩn bị phẫu thuật được do quá yếu và các bệnh nhân không thể theo dõi chặt chẽ bằng điều trị nội khoa được. Chống chỉ định Phụ nữ có thai, cho con bú, trẻ em, thiếu niên, vì có khả năng gây ung thư tuyến giáp, bướu đa nhân, bướu giáp rất to gây chèn ép, bướu giáp chìm, bướu giáp nhân lạnh có khả năng ung thư hoá, bệnh nhân dưới 40 tuổi. Gần đây có nhiều tác giả không coi tuổi trẻ là chống chỉ định của phương pháp điều trị này. Ưu điểm của phương pháp Có thể đưa bệnh nhân về tình trạng bình giáp mà chỉ cần dùng có một liều, tránh được những biến chứng của phương pháp điều trị bằng phẫu thuật. Nhược điểm của phương pháp Có nhiều tác giả nhấn mạnh rằng Iode đồng vị phóng xạ không điều trị khỏi được bệnh Basedow, tỷ lệ bệnh nhân suy giáp khá cao 13,3% và tỷ lệ tích lũy hàng năm là 2,1%. PHẦN 4 KHI NÀO CẦN MỔ ? theo dõi số tiếp theo ►Lồi mắt trong bệnh bướu cổ cường giáp ►Khó thở do bướu cổ ►Săn sóc sau phẫu thuật cắt tuyến giáp qua nội soi ►Phẫu thuật nội soi bướu cổ ►Bướu cổ khi nào thì mổ ? ►Chuyên đề bướu giáp Nhận diện bướu lành, bướu độc ? ►Điều trị u tuyến giáp bằng sóng cao tần RFA ►Rối loạn tuyến giáp và những hệ lụy
Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh Basedow khá cao, chiếm khoảng từ 10% đến 39% các bệnh liên quan đến bướu giáp hiện nay. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời sẽ có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. Bệnh Basedow là một dạng bệnh nội tiết phổ biến nhất hiện nay, trong đó bệnh cường giáp tự miễn chiếm hơn 90% các bệnh cường giáp. Bệnh được đặc trưng bởi hiện tượng bướu giáp lan tỏa và triệu chứng lồi mắt, thường bắt gặp chủ yếu ở nữ. Nếu không được chữa trị kịp thời mà để tình trạng bệnh kéo dài thì sẽ rất nguy hiểm cho bệnh nhân. 2. Nhận biết triệu chứng của bệnh Basedow Việc nhận biết triệu chứng được chia làm 2 nhóm hội chứng lớn là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến Tại tuyến giápBướu giápNgười mắc bệnh Basedow thường có bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm hoặc hơi cứng, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan ở vùng lân cận. Một số biểu hiện rối loạn vùng mạch tại vùng cổ như ửng đỏ, do nóng, tăng tiết mồ mạchHồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp khi gắng sức làm việc hay trong thời gian nghỉ ngơi. Trường hợp mạnh gây ra suy tim loạn mạch, phù phổi, gan to, phù hai chi kinh cơDấu hiệu nổi rõ ở hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ. Khi mắc bệnh cường giáp, bệnh nhân thường thay đổi tính khí thất thường, dễ nóng giận hay cáu gắt, bực tức, nói nhiều, bất an, khó tập trung, mất ngủ. Hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ ở người bệnh Basedow Dấu hiệu tăng chuyển hóaThân nhiệt tăng cao, thất thường, không ổn định, luôn có cảm giác nóng. Cơ thể gầy nhanh, uống nhiều nước, chịu được thời tiết lạnh nhưng không chịu được thời tiết ra còn xuất hiện rối loạn chuyển hóa gây hiện tượng loãng xương, ở người lớn tuổi sau mãn kinh gây nhiều biến chứng nặng như xẹp đốt sống, loãng xương tự nhiên, viêm quanh các hiện tiêu hóaĂn nhiều vẫn gầy, hay bị tình trạng tiêu chảy, nôn mửa, vàng loạn sinh lýVới biểu hiện giảm ham muốn ở nam giới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới, chứng vú to ở nam giới. Da và cơ quan phụ thuộcNgứa da, biểu hiện rối loạn sắc tố da, có xuất hiện bạch ban ở bàn tay và các chi, tóc khô, hoe, rất dễ rụng Biểu hiện ngoài tuyến giápThương tổn mắtThường hay gặp là lồi mắt. Có 2 dạng là lồi mắt giả và lồi mắt thật lòi mắt nội tiết, có thể không liên quan đến mức độ nhiễm độc giáp hoặc độc lập với điều trị vì có thể xảy ra sau quá trình điều trị nhất là phẫu thuật hoặc điều trị phóng mắt giảTriệu chứng này tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm tăng thyroxin gây tăng co kéo cơ nâng mi làm khóe mắt rộng ra. Thương tổn mắt với biểu hiện mắt người bệnh bị lồi mắt Lồi mắt thậtLồi mắt thật lồi mắt nội tiết tổn thương thâm nhiễm liên quan đến các thành phần hốc mắt gây bệnh mắt nội tiết trong bối cảnh tự miễn bệnh Basedow gây tổn thương cơ vận nhãn và tổ chức sau hốc mắt. Bệnh lý về mắt này thường phối hợp gia tăng nồng độ kháng thể kháng thể TSH kích thích.Phù niệmTỉ lệ gặp 2-3%, thường định vị ở mắt trước cẳng chân, dưới chân gối, có tính chất đối xứng. Vùng thương tổn dày không thể kéo lên có đường kính khoảng vài cm, có giới hạn. Da vùng thương tổn thường hồng bóng, thâm nhiễm cứng 9 da heo, lỗ chân lông nổi to lên nổi rõ, mọc thưa, lông dựng đứng da cam, bài tiết nhiều mồ hôi. Một số trường hợp bệnh nhân mắc hiện tượng này còn xuất hiện lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân. To các đầu chiĐầu các ngón tay và các ngón chân của bệnh nhân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương có thể có xuất hiện phản ứng tổ chức mềm, tái và nhiệt độ bình thường phân biệt với bệnh phổi man. Ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng tiêu móng các biểu hiện trên còn tìm thấy ở bệnh nhân một số dấu hiệu của các bệnh lý tự miễn phối hợp khác đi kèm như suy vỏ thương thận, suy phó giáp, tiểu đường, nhược cơ năng, trong bối cảnh bệnh đa nội tiết tự miễn. 3. Nguyên nhân gây bệnh Basedow Basedow hiện nay là bệnh tự miễn có nguyên nhân theo thống kê bệnh phần lớn có liên quan đến di truyền khoảng 79%, phần còn lại do các yếu tố khác như tuổi tác, môi trường sống, cơ địa, giới tính, hóa chất có trong thực phẩm ăn uống hằng ngày. Di truyền là nguyên nhân chính gây bệnh Basedow 4. Bệnh Basedow có nguy hiểm không? Basedow là bệnh rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, nếu không được điều trị kịp thời và điều trị đúng cách, bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng tử vong trong tình trạng suy tim, suy kiệt và đặc biệt trong tình trạng cơn bão giáp, một trong những biến chứng nặng của bệnh. 5. Chẩn đoán bệnh Basedow Các chuẩn đoán bệnh Basedow lâm sàng được tiến hành thực hiện nhưSiêu âm tuyến giáp, siêu âm Doppler mạch tuyến giápXét nghiệm chẩn đoán hormoneXạ hình tuyến giápĐiện tâm đồChụp X QuangXét nghiệm men gan,... Siêu âm tuyến giáp giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh Basedow 6. Các biện pháp ngừa bệnh Basedow Đối với các bệnh nhân đã từng mắc bệnh, cần thực hiện một số biện pháp để giảm nguy cơ bệnh cường giáp tự miễn tái phát trở lại của cao thể trạng sức khỏe, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và lành mạnh thường xuyên tập luyện thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe cơ thể, tăng sức đề kháng và điều hòa hệ miễn dịch của cơ bệnh cần xây dựng một nền tảng tinh thần tốt, thoải mái, tránh căng thẳng, buồn hút thuốc lá và sử dụng chất kích thích có hại cho đường hô hấp, tránh hít phải khói thuốc kính để bảo vệ mắt khỏi bụi, nhỏ thuốc và vệ sinh mắt hằng chế ăn nhiều thực phẩm có chứa nhiều iod, không sờ nắn nhiều lên vùng cổ. Ngoài ra, nếu có bất kỳ triệu chứng nào về bệnh cường giáp kể trên, mọi người cần đến đến các cơ sở y tế để thực hiện siêu âm tuyến giáp nhằm kịp thời phát hiện sớm và có pháp đồ điều trị đúng đắn đối với căn bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Bướu Basedow có ảnh hưởng đến sức khỏe không? Biến chứng nguy hiểm của bệnh Basedow là gì? Công dụng thuốc Thiamazol
giải phẫu bệnh basedow